Thứ Sáu, 24 tháng 8, 2007

Xóm..."lên men" !

Cả ấp, từ người già đến phụ nữ, trẻ em... ai nấy đều thuần thục với nghề vo nếp đã nấu chín thành từng viên bi nhỏ. Những bàn tay điệu nghệ của cư dân xóm nghèo đã biến những viên nếp ủ lên men trở thành món ăn khoái khẩu của dân đồng bằng, đó là món cơm rượu ( CR).
+ Ba đời gắn bó với nghề:
Rạch Xẻo Luông và rạch Bà Đằng nơi tập trung khoảng 80 hộ làm CR . Đó là địa danh thuộc ấp Thạnh Phước II, một ấp nghèo vùng ven của huyện Thốt Nốt (TP Cần Thơ), nơi được mọi người mệnh danh là “xóm lên men”. Cứ ba nhà thì có đến hai nhà chuyên sống bằng nghề làm CR. Theo sự chỉ dẫn của mọi người chúng tôi tìm đến nhà bà Nguyễn Thị Hai, 61 tuổi nhưng đã có tới 35 năm trong nghề. Cả nhà bà Hai đã có ba đời sống bằng cái nghề lấy “nếp nắn ra cơm”, tới đời con gái bà là đời thứ ba. Dì Hai kể : Cái nghề này có từ hồi đời cha mẹ tôi cho tới bây giờ. Làm CR nhìn đơn giản nhưng có vô nghề mới biết cực nhọc lắm, chủ yếu là lấy công làm lời. Những người làm CR phần lớn đều không có ruộng vườn.
Theo cư dân “ xóm lên men”, người gắn bó với nghề làm CR lâu đời nhất tại ấp Thạnh Phước II, xã Trung Thạnh, huyện Thốt Nốt, TP Cần Thơ chính là cụ Bùi Thị Kỉnh. Năm nay đã 82 tuổi nhưng cụ đã có tới bảy mươi năm sống bằng nghề làm và bán CR. Đôi tay gầy guộc, đã trỗ đồi mồi nhưng hằng ngày cụ vẫn làm CR để bán vì cái nghề này đã gắn bó với cụ từ năm 12 tuổi cho đến nay. Mặc dù tuổi đã cao nhưng đến giờ này trông cụ vẫn khỏe mạnh. Ai hỏi, cụ Kỉnh cười hiền hòa, nói: “Tôi sống khoẻ như vầy chắc có lẽ “nhờ” làm CR”. Bảy mươi năm trong nghề, cụ Kỉnh đi bán CR hầu như khắp các tỉnh miền Tây. Trước đây đi bán bằng ghe, 15 tuổi cụ đã chèo xuồng đến tận núi Sập để bán. Mỗi chuyến đi cụ đem theo 10 – 15 ổ cơm rượu (một ổ từ 5 – 6 lít nếp). Ổ CR được ủ bằng một cái sọt nhựa, để lá chuối xung quanh sau đó để nếp đã quấn lá chuối vô trong đến khi nào đầy mới lấy lá chuối đậy lại. Phải buộc dây phía trên ổ CR , phía dưới khoét lỗ cho nước men chảy xuống. Cốt nước men mỗi lít được bán 10.000 đồng, có công dụng dùng làm bánh bò rất ngon, tương truyền còn trị đựơc bệnh đau bao tử, phụ nữ sinh khó...

+ Bí quyết nghề:
Nói về nghề, cụ Kỉnh không hề dấu diếm mà vui vẻ chỉ cho chúng tôi những “ bí quyết” để được một ổ CR ngon. Nếp và men là hai thứ quan trọng nhất để quyết định việc ngon dở của một ổ CR. Nếp phải là nếp rặt, không trộn lẫn một hạt gạo. Còn đối với men phải là men ở miệt An Giang mới ngon. Men phải nghiền thật nhuyễn, trộn nếp thật đều tay trước khi cho vào ủ. Chị Lan, con của bà Hai, cho biết thêm: Để làm ra một ổ CR ngon bán được phải qua nhiều khâu và thời gian ít nhất là ba ngày. Trước tiên là mình lựa và vo nếp cho sạch, để ráo. Sau đó mang nếp đi xôi đến khi khuấy đũa thấy nếp dẻo là được. Xả nước cho nếp nguội rồi lại xôi thêm lần nữa nhưng lần này thấy hơi khói lên là mình nhắc xuống và bắt đầu nắn thành từng viên. Nước muối nấu sẵn là thứ không thể thiếu đối với những người vò nếp, để chống dính tay và làm cho viên CR “ chắc thịt” hơn. Lá chuối cũng góp phần cho việc ngon dở của viên CR. Theo kinh nghiệm của cụ Kỉnh thì chỉ có lá chuối hột và lá chuối xiêm là quấn nếp mới ngon. Còn lá chuối sáp là hoàn toàn không được. Ngoài ra, lá chuối không được thấm nước mưa, sẽ làm cho viên CR đỏ ửng, ăn bở rệu không ngon. Một ổ CR ngon nhìn vào viên nếp phải trắng không bời rời, nước không bị vàng kẹo, ngọt thanh và gắt. Cụ Kỉnh còn cho biết thêm: CR muốn ngon chỉ có xài nước sông thiên nhiên, không đựơc dùng nước gì khác. CR kỵ nhất là khói thuốc lá, mùi dầu gió và người ăn trầu. Nếu gặp những mùi đó thì tránh nếu không ổ CR khi bán người ăn sẽ bị … ói ngay.

+ Bán một ổ CR phải lội bộ trên 30km:
Do ở địa phương đã có quá nhiều người đi bán CR nên những năm gần đây không ít người phải mang CR đi bán và bỏ mối ở các tỉnh ĐBSCL. Anh Nguyễn Văn Tân, ấp Thạnh Phước 2, tâm sự: “Cứ mỗi một đợt nhà tôi làm 6 ổ CR cho vợ tôi bán ở tận thị xã Rạch Giá. Để có lời nhiều, vợ tôi phải thuê nhà trọ sinh viên ở Kiên Giang để bán hàng ngày, hết tuần lại trở về quê. Chứ nếu cứ đi đi về về thì tiền xe đò ăn hết... Vì cuộc sống mưu sinh, vừa phải lo cho 2 đứa con đi học, vợ chồng tôi phải chịu cảnh sống xa nhà như vậy...”. Khác với trường hợp của vợ chồng anh Tân, một người cũng ở trong “xóm lên men” này nói: Do có con nhỏ, xa gia đình không được, cứ vài ngày, khi làm CR xong, tôi phải lội bộ đi bán một lần. Trung bình mỗi ổ CR bán hết phải mất ít nhất 30km. Nếu trời mát thì đi ở những con đường lớn còn trời nắng nóng thì bán ở các con hẻm nhỏ... Cực khổ như vậy nhưng bán hết mỗi ổ CR cũng chỉ lời khoảng 30.000 đồng”. Trong số những người làm CR ở “xóm lên men” này đã có nhiều người bỏ nghề vì tuổi già sức yếu, hoặc đi lao động ở nơi khác. Theo anh Tân, dù thế nào, nghề làm CR chính là nghề truyền thống của làng và cũng đã giúp nhiều gia đình thoát nghèo nên không thể bỏ được.
Bài và ảnh: BÁ DŨNG

Gia đình của ông Cộng 3 thế hệ chỉ có ...1 ngón !











Gia đình...1 ngón !

Trên quê hương chị Ut Tịch – xã Tam Ngãi, huyện Cầu Kè (Trà Vinh) có một gia đình rất đặc biệt. Trải qua 3 đời, cứ mỗi thế hệ, gia đình này có 1 người mà trên mỗi một bàn tay chỉ có một ngón tay và cả bàn chân cũng chỉ có một ngón chân. Nhưng tất cả công việc sinh hoạt hàng ngày đều làm như người bình thường. Thậm chí còn có rất nhiều biệt tài mà khi nghe qua ai cũng nể phục.
+ Ba thế hệ…một ngón:
Nhờ anh cán bộ xã Tam Ngãi hướng dẫn, chúng tôi mới tìm được nhà của chú Nguyễn Văn Cộng, 54 tuổi ở ấp Bưng Lớn B. Có khách đến, chú vội chạy vào trong buồng mặc chiếc áo thun và chiếc quần dài khá tươm tất. Sau những lời chào hỏi, chú cũng hiểu được ý định của chúng tôi muốn biết về những cái biệt tài mà có lẽ chỉ duy nhất dòng họ mình mới có được. Vừa nói chuyện, chú vừa dùng 2 bàn tay chỉ có 2 ngón xé một đoạn giấy trắng mỏng tanh rất ngay ngắn, rút từ trong họp ra một chút thuốc lá. Chú lần lượt xoe tròn lại, trong nháy mắt chú đã có một điếu thuốc và đưa hột quẹt lên bậc lửa phì phà khói nghi ngút.
Chú ba Cộng vui vẻ tâm sự: Ở xóm này ai mà chẳng bàn tán về gia đình chúng tôi. Tôi là người thứ 2 của dòng họ có tật bẩm sinh như thế này. Ba tôi cũng chỉ có một ngón tay trên một bàn tay nhưng cũng làm được tất cả. Tất cả những người như chúng tôi làm được mọi việc chỉ duy nhất giải mạ và bón phân là làm không được thôi. Đặc biệt, ba mẹ tôi đều tham gia chống giặc và cả 2 đều là liệt sĩ… Gia đình chú nổi tiếng ở đây không chỉ về cái tật bẩm sinh này mà còn là có một truyền thống về đánh giặc ngoại xâm. Tuy có tật nguyền nhưng chú cũng là một đảng viên, từng tham gia những trận đánh nổi tiếng khắp vùng. Chú kể lại: “Năm 1967, tôi thấy cảnh nước mất nhà tang, tôi xin đi bộ đội nhưng mấy ổng không cho đi. Mấy ổng nói, một bàn tay có một ngón mà làm ăn được cái gì ? Để thuyết phục được tôi phải biểu diễn cách tháo lắp súng, bắn trúng mục tiêu chính xác,… thế là tôi được chấp thuận đứng vào hàng ngũ của quân đội. Tôi mừng lắm. Ban đầu, tôi được phân công làm giao liên rồi thư ký tiểu đoàn 1 ly 8. Khi giải phóng về làm tập đoàn, làm thư ký của xã Tam Ngãi và đặc biệt là còn huấn luyện quân sự cho thanh niên ở địa phương”.
Đang ngồi tâm sự với chú Ba thì cô Nguyễn Thị Anh (vợ của chú Ba) ẵm đứa bé gái trên tay từ ngoài cổng vào. Chú ba chỉ tay và nói: “Kìa, đứa nhỏ thếm ba mày bồng trên tay là cháu nội đó. Ba của nó cũng chỉ có một ngón tay và một ngón chân trên mỗi một bàn đấy”. Chú thếm ba có 4 đứa con: 1 trai và 3 gái. Đặc biệt, chỉ có con trai mới có dị tật thế này, tất cả 3 cô con gái đều bình thường. Ba đời nay vẫn vậy. Dù có tật nguyền nhưng anh vẫn có gia đình bình thường như bao người khác. Thếm ba nói chen vào: “Chú biết không ? ông xã tôi tuy có tật nhưng có nhiều biệt tài lắm. Tôi thương ổng và lấy ổng cũng nhờ cái tình và cần cù, siêng năng làm việc…”.
+ Những biệt tài…điêu luyện:
Để cho chúng tôi muốn biết sự thật về những lời đồn, chú ba Cộng lần lượt biểu diễn cho chúng tôi tận mắt chứng kiến những biệt tài của mình. Chú lần lượt viết chữ, cầm ly trâm trà, cầm chén đủa gắp từng con tép nhỏ…thật nhanh và chính xác. Chú nói: “Đây chỉ là những chuyện bình thường hàng ngày. Tôi còn biết vít mương bằng gào thùng và là người bắt lươn nổi tiếng nhất địa phương này”. Đặc biệt, hiện nay chú cũng là một cây văn nghệ của địa phương. Nói xong, chú lấy ra một cây đàn biểu diễn cho chúng tôi lướt nghe về 6 câu vọng cổ và một bài bản vắn như: Lưu Thủy Trường, Xuân Tình, Tây Thi,… Chỉ có một ngón tay nhưng chú biểu diễn bấm nốt rất điêu luyện. Ai đã từng xem chú đàn cũng đều nể phục.
Gặp được chú ba Cộng, chúng tôi như gặp thêm được một “quái kiệt” của vùng đất Trà Vinh và càng khâm phục hơn những người có tật thường hay có biệt tài khó ai sánh kịp. Tuy có nhiều chuyện lạ nhưng với dòng họ 3 đời của chú ba Cộng có thể xem là một câu chuyện hy hữu nhất từ trước tới nay.
Bài vả ảnh: BÁ DŨNG

Những chuyện lạ ở Vĩnh Long !











Làng ... không dấu vân tay !

Ở Vĩnh Long có một ngôi làng mà bất cứ ai mới nghe qua cũng nghĩ rằng “độc nhất vô nhị”: Làng... “không dấu vân tay”. Không ngăn được sự tò mò, chúng tôi đã tìm đến tận nơi.
Để đến được nơi muốn tìm, từ quốc lộ 1A, chúng tôi đi qua nhiều con hẻm ngoằn ngoèo nằm ẩn mình bên dòng sông Cái Cá thuộc khóm 7, phường 2, thị xã Vĩnh Long (Vĩnh Long). Đến nơi, quan cảnh trước mắt chúng tôi hiện ra đó là một làng nghề đan cần xé hết sức nhộn nhịp. Người người vừa ngồi đan thoăn thoắt đôi tay, vừa trò chuyện với nhau nghe thật rôm rả
+ Nghề của các... đầu ngón tay:
Theo các lão làng kể lại: Nguồn gốc của làng nghề đan cần xé này có từ bao giờ chẳng một ai nhớ rõ. Nhưng điều mà mọi người khẳng định như... đinh đó là do những người Hoa từ Quảng Ngãi vào Vĩnh Long lập nghiệp và định cư cho tới ngày nay. Chính vì thế, tên tuổi của họ đã gắn bó cùng với ngôi làng này, như: Tăng Giang, Lạc Mạnh Đăng, Huỳnh Tâm.... Các công đoạn làm cần xé do các người thợ ở đây gọi cũng rất Hoa: làm tẩy, hỉ mịt, xó lò, hỉ nan, nẩu dình, ghim quai...
Thành viên của làng nghề này không kể già trẻ, trai gái; mỗi người đảm nhận một công đoạn khác nhau như: chẻ nan, vuốt nan, đan mễ (đan phần đít của cần xé)... nhưng tất cả đều có một điểm chung là làm thủ công bằng tay, nhất là sự vận dụng của các đầu ngón tay. Để gia nhập vào nghề, đòi hỏi mỗi người phải học hàng tháng trời mới có thể làm được. Đây cũng được xem là quãng thời gian “ấn tượng khó phai” nhất của những ai mới vào nghề. Bỡi lẽ, chỉ cần ngày đầu tiên tập tành chẻ nan, vướt nan thôi, cũng đủ làm đôi tay của người học phải rớm máu liên tục. Nếu những ai vượt qua được một tháng đầu “thử việc”, thì coi như đã thành nghề và có thể một mình đan được cái cần xé.
Tuy nhiên, để làm được một cần xé hoàn chỉnh, người thợ trải qua nhiều công đoạn gian nan, vất vả. Bước đầu tiên họ phải chẻ cây trúc thật dài ra thành nhiều nan nhỏ và đều nhau. Sau đó, họ dùng dao vuốt từng cọng nan cho thật láng. Ở công đoạn này, người thợ phải thật khéo léo và tỉ mỉ, nếu chỉ sơ ý một chút là vẫn có thể đổ máu như những ngày đầu học việc vì độ sắc bén của trúc. Kế đến là công đoạn đan mễ. Kể từ công đoạn này trở đi, người đan bắt đầu vận dụng tất cả các ngón tay để khâu những cọng nan lại với nhau. Ghim quai là công đoạn kết thúc và là phần quan trọng nhất. Bởi vì, những người đảm nhận công đoạn này đòi hỏi phải có sức khoẻ tốt, các đầu ngón tay cũng phải chịu được lực mạnh. Do vậy, tất cả những người làm ở công đoạn này đều bị chai sần các đầu ngón tay. Dần theo thời gian, dấu vân tay của họ cũng bị “phai” vì nghề. Một người thợ tại đây đã “bí mật” với chúng tôi rằng, nếu muốn biết ai có thâm niên trong nghề lâu hay không thì chỉ việc nhìn vào các đầu ngón tay thì sẽ thấy ngay.
Ông Mai Văn Bé, Phó Chủ tịch UBND phường 2, nói: “Mỗi lần dân ở làng nghề ấy đến làm giấy chứng minh thư, chúng tôi rất “khổ”. Bởi khi bảo họ lăn dấu tay, chúng tôi chỉ thấy một bệt đen ngồm, chẳng có một dấu vân nào nào để nhận dạng, nên đành phải khuyên họ phải tạm nghỉ làm việc khoảng 2 tuần mới quay lại làm giấy để đôi tay có... bông hoa với người ta”. Còn theo anh Phạm Văn Hùng, một người thợ của làng này, thì: “Tôi làm nghề đan cần xé từ khi còn bé tí. Do đó, khi nghe địa phương thông báo làm giấy chứng minh thư, tôi phải thay thế vợ giặt quần áo, nội trợ hơn nửa tháng trời để đợi cho dấu vân tay xuất hiện trở lại”.
+ Làng nghề đang bị mai một!
Tiếp xúc với chúng tôi, những người thợ của làng nghề này cho biết, mặc dù với công việc vất vả như thế, nhưng hàng trăm người trong số họ vẫn cố bám lấy nghề. Có người đã gắn bó với nghề đan cần xé này gần 50 năm qua. Khi họ không đủ sức khoẻ để theo đuổi nghề, thì lớp con cháu của họ thay vào. Thu nhập trung bình của mỗi người khoảng 30.000 đồng/ngày. Ngoài 50 hộ có đầu tư vật liệu (trúc) rồi thuê nhân công đến làm, trong làng còn có hàng chục hộ khác mang vật liệu ở các cơ sở về làm tại nhà với mức thù lao tính theo sản phẩm. Ông Ba Châu, chủ một cơ sở đan cần xé tại làng, tâm sự: “Mặc dù thu nhập không cao lắm, nhưng cũng chính cái nghề này đã thể hiện tinh thần tương trợ lẫn nhau giữa người dân trong xóm; đồng thời góp phần giải quyết công ăn việc làm, giúp nhau thoát nghèo cho các hộ dân”. Thế nhưng cũng theo ông Châu, điều mà người thợ của làng nghề này đang băn khoăn nhất đó là dấu hiệu mai một của làng nghề đã bắt đầu lộ rõ. Bởi lẽ, do tình trạng trái cây nội địa liên tục rớt giá, nên nhiều nhà vườn đã chuyển sang canh tác loại hình khác, dẫn đến việc tiêu thụ cần xé ngày càng giảm đi. Ngoài ra, hiện tại cây trúc ở miền Tây cũng trở nên hiếm, nên giá cả của nó đôi khi ở... trên mây, khiến cho thu nhập của người đan bị ảnh hưởng.
Rời ngôi làng “không dấu vân tay” trong cơn mưa dầm của ngày cuối tháng bảy, chúng tôi được những người thợ tại đây nói với theo một câu nghe rất buồn: “Lần sau trở lại đây, chắc có lẽ các anh sẽ không còn nghe ai nhắc đến tên gọi thân quen của làng nghề này. Bởi lẽ, khi nào cây trúc miền Tây không còn nữa, thì nghề đan cần xé ở Vĩnh Long cũng phải khép lại, và làng nghề “không dấu vân tay” sẽ đi vào quên lãng”.
Bài và ảnh: BÁ DŨNG